Hai nhà kinh tế học tranh cãi xem thị trường tự do nên ‘tự do’ đến mức nào

18 1 / 2022
Đăng bởi: lovebird21c

Hai nhà kinh tế học tranh cãi xem thị trường tự do nên ‘tự do’ đến mức nào

nguồn: New York Times,

biên dịch: Thu Phương,


The Two Economists Who Fought Over How Free the Free Market Should Be

 

Hai nhà kinh tế học tranh cãi xem thị trường tự do nên ‘tự do’ đến mức nào

 

 


 

The New Deal and World War II transformed the U.S. economy from a market free-for-all into a system that was still capitalist, but with many of the rough edges sanded off.

 

Chính sách kinh tế mới và Thế chiến II đã biến nền kinh tế Mỹ từ thị trường tự do không giới hạn thành hệ thống mang tính tư bản được mài dũa.

 

 

 

Profit-seeking business remained very much the norm — America never went in for significant government ownership of the means of production — but businesses and businesspeople were subject to many new constraints.

 

Tiêu chuẩn kinh doanh vì lợi nhuận được duy trì — Mỹ chưa bao giờ đồng tình với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất — tuy nhiên, các doanh nghiệp và doanh nhân phải hứng chịu nhiều hạn chế mới.

 

 

 

Taxes were high, in some cases as high as 92 percent; a third of the nation’s workers were union members; vigilant antitrust policy tried to limit monopoly power.

 

Thuế cao, nhiều trường hợp cao tới 92%; 1/3 công nhân cả nước là thành viên công đoàn; chính sách chống độc quyền đã hạn chế quyền lực độc quyền.

 

 

 

And the government, following the ideas developed by Britain’s John Maynard Keynes, took an active role in trying to fight recessions and maintain full employment.

 

Và theo quan điểm của nhà kinh tế học John Maynard Keynes người Anh trình bày, chính phủ đã đóng vai trò tích cực trong việc cố gắng chống lại suy thoái và duy trì công ăn việc làm đầy đủ.

 

 

 

Over the decades that followed, however, there was sustained pushback — first intellectual, then political — against these constraints, an attempt to restore the freewheeling capitalism of yore.

 

Tuy nhiên, nhiều thập kỷ sau đó, tình trạng phản đối liên tiếp xảy ra nhằm chống lại những hạn chế này — đầu tiên đến từ giới trí thức, sau đó là chính trị — được xem là nỗ lực nhằm khôi phục chủ nghĩa tư bản tự do trở lại như xưa.

 

 

 

Nicholas Wapshott’s “Samuelson Friedman: The Battle Over the Free Market” is basically an account of this pushback and its eventual fate, framed as a duel between two famous economists — Paul Samuelson of the Massachusetts Institute of Technology and Milton Friedman of the University of Chicago.

 

Cuốn sách “Samuelson Friedman: Tranh luận về thị trường tự do” của Nicholas Wapshott về cơ bản ghi chép lại tình trạng phản đối và kết quả cuối cùng, được dàn dựng như thể đó là cuộc tranh luận giữa hai nhà kinh tế học nổi tiếng — Paul Samuelson của Học viện Công nghệ Massachusetts và Milton Friedman của Đại học Chicago.

 

 

 

Maybe the first thing you need to know is that the idea that what happened was a personal duel between economic titans is best seen as a literary conceit, a way to inject some theatrical drama into potentially dry intellectual history, rather than as the way it actually happened.

 

Có lẽ, điều đầu tiên bạn cần biết là: ý tưởng đặt những vấn đề đã xảy ra biến thành cuộc tranh luận cá nhân giữa các nhà kinh tế học uyên bác được coi là phép ẩn dụ văn học, nhằm tăng thêm tính kịch vào lịch sử trí tuệ có vẻ khô khan, thay vì để nguyên bản chất sự việc.

 

 

 

Certainly nobody told Paul Samuelson that he was engaged in a fight for capitalism’s soul.

 

Chắc chắn không ai nói cho Paul Samuelson biết rằng ông đang tham gia chiến đấu cho linh hồn của chủ nghĩa tư bản.

 

 

 

Indeed, if I had to name someone on the center-left who actually did engage in a sustained intellectual duel with Friedman, it wouldn’t be Samuelson, it would be Yale’s James Tobin, whose stinging criticisms of Friedman’s methods retain much of their force to this day, but who oddly makes almost no appearance in Wapshott’s book.

 

Thật vậy, nếu tôi phải kể tên một ai đó thuộc cánh tả thực sự từng tham gia vào cuộc đấu trí kéo dài với Friedman thì đó không phải là Samuelson mà là James Tobin của Yale, người đưa ra những chỉ trích gay gắt về phương pháp của Friedman và giá trị của chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nhưng kỳ lạ là James Tobin hầu như không xuất hiện trong sách của Wapshott.

 

 

 

Anyway, it’s true that from 1966 into the early 1980s Friedman and Samuelson wrote alternating columns in Newsweek, an unusual experiment in regular public commentary by eminent academics that has rarely been repeated.

 

Dù sao thì đúng là Friedman và Samuelson đã luân phiên viết bài trên tờ Newsweek từ năm 1966 đến đầu những năm 1980 — việc chưa từng có đối với các bài bình luận công khai thông thường do các học giả xuất sắc viết bởi chúng hiếm khi được lặp lại.

 

 

 

But Samuelson was an economists’ economist, who made fundamental contributions to fields ranging from international trade to the behavior of financial markets.

 

Nhưng Samuelson là nhà kinh tế học của các nhà kinh tế học, ông có những đóng góp nền tảng trong các lĩnh vực từ thương mại quốc tế cho đến hành vi của thị trường tài chính.

 

 

 

Samuelson did write a best-selling textbook that brought Keynesian economics — the idea that changes in government spending and taxes can be used to manage the economy — to American college classrooms.

 

Samuelson từng viết một cuốn sách giáo khoa và bán rất chạy, và đưa thuyết kinh tế học Keynes vào giảng dạy tại các lớp học đại học Mỹ — thuyết nói về những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế có thể quyết định nền kinh tế.

 

 

 

And his concept of the “neoclassical synthesis” — markets can work, but only with government-created guardrails — in effect provided the intellectual justification for the postwar economy.

 

Và trên thực tế, khái niệm “hợp đề tân cổ điển” của ông — thị trường chỉ có thể hoạt động khi những hàng rào chắn được chính phủ tạo nên — là minh chứng về mặt lý thuyết cho nền kinh tế thời hậu chiến.

 

 

 

But it’s clear that for him politics was never more than a peripheral concern.

 

Nhưng đối với Samuelson, rõ ràng chính trị chưa bao giờ là mối quan tâm hàng đầu.

 

 

 

Friedman, on the other hand, was very much a political animal; pretty much everything he did was aimed at restoring Gilded Age-style unrestrained capitalism.

 

Mặt khác, Friedman là người ám ảnh chính trị; hầu hết mọi thứ ông làm đều nhằm mục đích khôi phục chủ nghĩa tư bản tự do như Thời đại Mạ vàng.

 

 

 

Of course, political crusades make for better entertainment than quiet scholarship, so Friedman’s life story dominates Wapshott’s book.

 

Tất nhiên, các cuộc vận động chính trị gợi sự thích thú nhiều hơn so với chương trình học bổng bình thường. Bởi vậy câu chuyện cuộc đời Friedman chiếm ưu thế trong sách của Wapshott.

 

 

 

And just to be clear, while I think Wapshott, the author of a previous book about Keynes and Freidrich Hayek, overpersonalizes the nature of the debate for dramatic effect, and also arguably establishes some false equivalence between Friedman the relentless advocate and Samuelson the scholar, it does make for a good story — and the appropriately cautious reader can learn a lot from this book.

 

Nói một cách chính xác, tôi nghĩ Wapshott (tác giả của cuốn sách trước về Keynes và Freidrich Hayek) đã cá nhân hóa hơi quá bản chất của cuộc tranh luận nhằm tạo hiệu ứng kịch tính, đồng thời xây dựng một số so sánh không chính xác giữa Friedman (người ủng hộ không ngừng) và Samuelson (nhà thông thái), nhưng tất cả đã tạo nên một câu chuyện hấp dẫn — và với người nào đọc cẩn thận, vừa phải, có lẽ sẽ học được nhiều điều từ cuốn sách này.

 

 

 

So, about that political animal: Friedman first achieved widespread prominence in academic circles as co-author of a 1946 pamphlet denouncing rent control (somehow not mentioned in this book).

 

Về Friedman, nhà ám ảnh chính trị: lần đầu được biết đến rộng rãi trong giới học thuật với tư cách là đồng tác giả của cuốn sách mỏng năm 1946 lên án vấn đề kiểm soát tiền thuê nhà (không được đề cập trong cuốn sách này).

 

 

 

He received wider notice with a 1953 essay, “The Methodology of Positive Economics,” that seems maddeningly abstract — what’s he driving at? — until he finally gets to the meat: a demand that economists ignore theories about monopoly and imperfect competition because, he claims, they don’t make any useful predictions beyond those that come from simple supply and demand.

 

Năm 1953, ông nhận được nhiều chú ý hơn với bài tiểu luận “Phương pháp luận về kinh tế học thực chứng”. Bài luận gây khó hiểu đến phát điên — không rõ ông muốn nhắm đến điều gì? — cho đến khi ông đi đến điểm mấu chốt: yêu cầu các nhà kinh tế học bác bỏ các thuyết độc quyền và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bởi theo ông, chúng không đưa ra bất kỳ dự đoán có ích nào ngoài những dự đoán xuất phát từ cung và cầu cơ bản.

 

 

 

And his first best-selling book, “Capitalism and Freedom,” was more a political sermon than a work of economic analysis.

 

Và cuốn sách đầu tiên bán chạy nhất của ông, “Chủ nghĩa tư bản và tự do”, giống một bài thuyết giáo chính trị hơn là một tác phẩm phân tích kinh tế.

 

 

 

That said, Friedman was no mere propagandist: He was a brilliant analytical economist capable of doing pathbreaking academic work when he set his mind to it.

 

Điều đó cho thấy, Friedman không chỉ là nhà truyền giáo: Ông còn là nhà kinh tế học có khả năng phân tích xuất sắc, cho ra đời những tác phẩm học thuật đột phá một khi ông đặt tâm trí vào đó.

 

 

 

His work on monetary policy, in particular, persuaded many economists who disagreed with him about almost everything else.

 

Đặc biệt, tác phẩm về chính sách tiền tệ của ông đã thuyết phục được nhiều nhà kinh tế trước đây từng phản đối ông trong nhiều vấn đề.

 

 

 

Yet looking at Wapshott’s timeline of Friedman’s career, it’s hard to avoid the sense that Friedman viewed his professional research, excellent though some of it was, as a sort of loss leader for his political advocacy — a way to establish his academic bona fides and hence add credibility to his free-market crusade.

 

Tuy nhiên, nếu nhìn vào mốc thời gian sự nghiệp của Friedman trong sách của Wapshott, rất dễ nhận thấy Friedman coi công trình nghiên cứu chuyên nghiệp của mình là chiến lược định giá chịu lỗ đối với quan điểm ủng hộ chính trị của ông (dù vậy cũng có nhiều nghiên cứu rất xuất sắc) — đó là cách ông xây dựng thiện chí về mặt lý thuyết, nhờ đó tăng thêm uy tín cho cuộc vận động thị trường tự do.

 

 

 

Even his seemingly least political major work, “A Theory of the Consumption Function” (and the first of his works to receive widespread academic acclaim), was published the year after he gave the lectures that became “Capitalism and Freedom.”

 

Ngay cả tác phẩm chính trị có vẻ ít phần chính trị nhất của ông, “Thuyết về Hàm tiêu dùng” (và là tác phẩm đầu tiên ông nhận được sự hoan nghênh rộng rãi trong giới học thuật) cũng được xuất bản một năm sau khi ông giảng về “Chủ nghĩa tư bản và Tự do”.

 

 

 

And his magnum opus, “A Monetary History of the United States, 1867-1960” (with Anna Schwartz), while a magisterial work of scholarship, clearly had a major political ax to grind.

 

Và kiệt tác của ông (cùng Anna Schwartz), “Lịch sử tiền tệ của Mỹ, 1867-1960” tuy là tác phẩm học thuật uyên thâm nhưng có mục đích chính trị rất rõ ràng.

 

 

 

For its big takeaway was the claim that the Great Depression wouldn’t have happened if the Federal Reserve Board had done its job and stabilized the money supply.

 

Trọng điểm của tác phẩm chính là cho rằng Đại Suy thoái sẽ không xảy ra nếu Cục Dự trữ Liên bang hoàn thành công việc của mình và ổn định cung ứng tiền.

 

 

 

That is, simple technocratic measures would have been sufficient — no need for all that Keynesian stuff.

 

Có nghĩa, các phương pháp kỹ trị cơ bản là quá đủ rồi — không cần những thứ liên quan đến thuyết kinh tế Keynes.

 

 

 

So while the book was devoted to monetary economics, it was also clearly intended to strike a blow against activist government.

 

Vì thế, tuy cuốn sách dành cho kinh tế học tiền tệ nhưng rõ ràng cũng có ý định phản đối chính phủ chủ động.

 

 

 

The influence of Friedman’s monetary ideas peaked around 1980, then went into steep decline.

 

Sức ảnh hưởng của lý thuyết tiền tệ do Friedman đưa ra lên đến đỉnh điểm vào khoảng năm 1980, sau đó suy yếu nhanh chóng.

 

 

 

Both the United States and Britain tried to implement Friedman’s belief that the authorities could stabilize the economy by ensuring steady, slow growth in the money supply; both efforts failed dismally.

 

Cả Mỹ và Anh đều nỗ lực thực hiện theo niềm tin của Friedman, mong muốn các nhà chức trách có thể ổn định nền kinh tế bằng cách đảm bảo tăng trưởng chậm và chắc trong cung ứng tiền; tuy nhiên, cả hai nỗ lực đều thất bại thảm hại.

 

 

 

Friedman didn’t help himself by making wild predictions about runaway inflation and depression, none of which came true.

 

Friedman không thể tự cứu mình dựa trên những dự đoán bừa bãi về tình trạng lạm phát mất kiểm soát và suy thoái, những dự đoán này đều không trở thành sự thật.

 

 

 

Still, most economists continued to believe that a more flexible form of monetary policy could keep things under control — that the Federal Reserve could manage the economy without bringing Congress into the act.

 

Tuy nhiên, số đông các nhà kinh tế học vẫn cho rằng chính sách tiền tệ linh hoạt hơn có thể giữ mọi thứ trong tầm kiểm soát — và Cục Dự trữ Liên bang có thể xoay chuyển nền kinh tế mà không cần Quốc hội vào cuộc.

 

 

 

But a number of economists had looked closely at Friedman’s arguments about the Great Depression, and found them wanting.

 

Bên cạnh đó, nhiều nhà kinh tế học khác khi xem xét kỹ các lập luận của Friedman về cuộc Đại Suy thoái đã nhận ra thiếu sót.

 

 

 

And the aftermath of the 2008 financial crisis vindicated the doubters.

 

Và hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã minh chứng cho những người nghi ngờ đó.

 

 

 

Ben Bernanke, the Fed chair and a huge Friedman admirer, did everything Friedman and Schwartz said the Fed should have done in the 1930s — and it wasn’t enough.

 

Ben Bernanke, chủ tịch Fed và là người rất ngưỡng mộ Friedman, ông đã làm theo mọi điều Friedman và Schwartz bảo Fed nên làm trong những năm 1930 — nhưng vậy là chưa đủ.

 

 

 

Soon Bernanke was pleading for help from fiscal policy — that is, pleading for Keynesianism to come to the rescue.

 

Không lâu sau, Bernanke đã cầu xin sự giúp đỡ từ chính sách tài khóa — cũng tức là cầu xin chủ nghĩa Keynes ra tay giải cứu.

 

 

 

What about Friedman’s broader faith in free markets?

 

Còn niềm tin mạnh mẽ của Friedman vào thị trường tự do thì sao?

 

 

 

Libertarian policies reached a high-water mark in the 1990s, as industries from power generation to banking were deregulated.

 

Các chính sách của chủ nghĩa tự do đạt đỉnh trong những năm 1990, thời điểm các ngành từ sản xuất năng lượng cho đến ngân hàng đều được bãi bỏ quy định.

 

 

 

But all too many of these deregulatory ventures ended in grief, with incidents like the California power crisis of 2000-1 and, yes, the banking crisis of 2008.

 

Nhưng có quá nhiều dự án bãi bỏ quy định phải kết thúc trong tiếc nuối, do những sự việc như cuộc khủng hoảng năng lượng California năm 2000-2001 và, vâng, cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2008 xảy ra.

 

 

 

And where are we now?

 

Và giờ chúng ta đang ở đâu?

 

 

 

If you look at the Biden administration’s proposals — which are for the most part very popular, although their legislative fate is uncertain — they’re pro-market, but involve substantial government spending and regulation in an attempt to tilt the arc of markets toward social justice.

 

Nếu bạn nhìn vào các đề xuất của chính quyền Biden — phần lớn đều rất được ủng hộ, nhưng được thông qua hay không thì chưa rõ — chúng ủng hộ thị trường tư bản nhưng can thiệp đến chi tiêu và quy định trọng yếu của chính phủ trong nỗ lực làm nghiêng cán cân thị trường về phía công bằng xã hội.

 

 

 

In other words, they sound a lot like what Paul Samuelson was saying decades ago.

 

Nói cách khác, các đề xuất rất giống những điều Paul Samuelson từng tuyên bố cách đây nhiều thập kỷ.

 

 

 

So by all means you should read Wapshott’s history of the disputes that roiled economics over much of the second half of the 20th century.

 

Vì vậy, các bạn bằng mọi giá hãy đọc lịch sử Wapshott viết về những tranh chấp gây chấn động kinh tế học, chủ yếu thuộc nửa cuối thế kỷ 20.

 

 

 

But you should also ask a question I don’t think the book answers:

 

Nhưng bạn cũng nên đặt ra câu hỏi mà tôi không nghĩ cuốn sách có câu trả lời:

 

 

 

Was all of this just a grand, ideologically driven detour away from sensible economic theory and policy?

 

Tất cả những điều này có phải chỉ là một đường vòng lớn, được định hướng về mặt ý thức hệ nhằm né tránh học thuyết và chính sách kinh tế đúng đắn?

 

 

 

And why did that happen?

 

Và vì sao điều đó lại xảy ra?


SAMUELSON FRIEDMAN
The Battle Over the Free Market
By Nicholas Wapshott
Chia sẻ: